Chapter 2. Establishing the Bodhimanda
THIẾT LẬP ĐẠO TRÀNG
KINH
VĂN:
阿難白佛言。世尊。我蒙如來無上悲誨。心已開悟。自知修證無學道成。末法修行建立道場。云何結界。合佛世尊 清 淨軌則。
A-Nan bạch Phật ngôn: Thế-Tôn! Ngã mông Như-Lai,
Vô-Thượng bi hồi, tâm dĩ khai-ngộ, tự tri tu-chứng, vô-học đạo
thành. Mạt pháp tu-hành, kiến-lập Đạo-Tràng, vân hà kiết-giới, hiệp Phật
Thế-Tôn, thanh-tịnh quỹ tắc.
VIỆT DỊCH:
Ông A Nan thưa với Phật: Bạch Thế Tôn, con nhớ lời dạy từ bi vô thượng của
Đức Như Lai, tâm đã khai ngộ, tự biết con đường tu chứng thành quả vô học.
Nhưng người tu hành trong thời mạt pháp muốn lập đạo tràng phải kết giới thế
nào để hợp với qui tắc thanh tịnh của chư Phật Thế Tôn?
GIẢNG
GIẢI:
Sau khi ông A Nan nghe
Phật giảng dạy, ông nghĩ phải hỏi về cách kết giới và lập đạo tràng.
Ông A Nan thưa với Phật:
Bạch Thế Tôn,
con nhớ lời dạy từ bi vô thượng của Đức Như Lai, tâm đã
khai ngộ, tự biết con đường tu chứng thành quả vô học.
Ông A Nan tự
biết sẽ trọn nghiệp thành tựu quả vị A-la-hán và hơn thế nữa, nhưng
người tu hành trong thời mạt pháp muốn lập đạo tràng phải kết giới
thế nào để hợp với qui tắc thanh tịnh của chư Phật Thế Tôn.
Trong tương lai, vào
thời mạt pháp sẽ có người muốn lập đạo tràng, vậy họ phải làm thế
nào để kết giới? Làm thế nào để hợp với quy tắc thanh tịnh của chư Phật?
KINH
VĂN:
佛告阿難。若 末 世 人 願立道場。先取雪山 大力白牛。食其山中 肥膩香草。此牛 唯飲雪山清水。其糞微細。可取其糞。和合栴檀。以泥其地。
Phật cáo A-Nan: Nhược
mạt-thế-nhân, nguyện lập Đạo-Tràng, tiên thủ Tuyết-sơn, đại-lực
bạch-ngưu, thực kỳ sơn trung, phỉ nị hương-thảo, thử ngưu duy ẩm Tuyết-sơn
thanh-thủy, kỳ phẩn vi tế, khả thủ kỳ phẩn, hòa-hiệp chiên-đàn, dỉ nê kỳ địa.
VIỆT DỊCH:
Phật bảo ông A Nan: Nếu người trong
đời mạt pháp muốn lập đạo tràng, đầu tiên phải lấy phân con đại lực Bạch ngưu ở
núi Tuyết Sơn. Con Bạch Ngưu này chỉ ăn cỏ thơm ngon trong núi, uống nước trong
trên núi. Do đó phân của nó mịn màng, lấy phân đó hòa với hương chiên đàn để
trát nên nền đất.
GIẢNG
GIẢI:
Phật Thích Ca Mâu Ni nghe A
Nan hỏi về cách kết giới và lập đạo tràng, bảo ông
A Nan: Nếu người trong đời mạt pháp muốn lập đạo tràng, đầu tiên phải lấy
phân con đại lực Bạch ngưu ở núi Tuyết Sơn. Con Bạch Ngưu này chỉ ăn cỏ thơm
ngon trong núi, uống nước trong trên núi. Do đó phân của nó mịn màng, lấy phân
đó hòa với hương chiên đàn để trát nên nền đất.
Phân của con bò ăn cỏ ấy, đem trộn với hương chiên đàn,
sau đó trát lên nền đất.
KINH VĂN:
若非雪山。其牛臭穢。不堪塗地。別於平原。穿去地皮五尺已下。取其黃土。
Nhược phi Tuyết-sơn, kỳ ngưu xú-uế, bất kham
đồ địa. Biệt ư bình-nguyên, xiên khử địa bì, ngũ
xích dĩ hạ, thủ kỳ huỳnh-thổ.
VIỆT DỊCH:
Nếu không phải ở Tuyết Sơn thì phân của Bạch ngưu hôi bẩn, không trát đất
được. Như vậy phải chọn nơi bình nguyên, đào sâu xuống năm thước lấy lớp đất
vàng.
GIẢNG
GIẢI:
Nếu không phải ở Tuyết Sơn thì phân của Bạch ngưu hôi bẩn.
Nếu Bạch Ngưu không ở tại Tuyết Sơn thì phân của
nó hôi bẩn, không thể dùng để trát lên nền đất được.
Như vậy phải chọn nơi bình nguyên, đào sâu xuống năm thước lấy
lớp đất vàng.
Trong trường hợp ấy, ông phải chọn nơi đất bằng,
đào sâu xuống năm thước lấy đất có sắc vàng trát lên nền.
KINH
VĂN:
和上 栴 檀、沈水、蘇合、薰陸、鬱金、白膠、青木、零陵、甘松、及雞舌香。以此十種細羅為粉。合土成泥。以塗場地。方 圓 丈 六。為八角壇。
Hòa thượng chiên-đàn, trầm thủy, tô-hiệp,
huân-lục, uất-kim, bạch-giao, thanh-mộc, linh-lăng, cam-tùng, cặp kê-thiệt-hương, dĩ thử thập chủng, tế la
vi-phấn, hiệp thổ thành nê,
dĩ đồ tràng-địa. Phương viên trượng lục, vi bát giác
đàn.
VIỆT DỊCH:
Lấy mười thứ hương là chiên đàn,
trầm thủy, tô hợp, huận lục, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng
và kê thiệt, nghiền thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, đoạn trát lên nền đất
đạo tràng, mỗi bên một trượng sáu, thành cái đàn bát giác.
GIẢNG
GIẢI:
Lấy mười thứ hương là chiên đàn, trầm thủy, tô hợp, huận lục,
uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng và kê thiệt.
Phải lấy đất vàng trộn với mười loại hương
đó, nghiền thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, đoạn trát
lên nền đất đạo tràng, mỗi bên một trượng sáu, thành cái đàn bát
giác.
KINH
VĂN:
壇心置一金銀銅木所造蓮華。華中安鉢。鉢中先盛 八月露水。水中隨安所有華葉。取八圓鏡。各安其方。圍繞華鉢。鏡外建立 十六蓮華。十六香爐。間華鋪設。莊 嚴 香 爐。純 燒 沈 水。無令見火。
Đàn-tâm trị nhứt kim ngân đồng mộc sở tạo liên-hoa, hoa trung
an bát, bát trung tiên thạnh, bát nguyệt lộ thủy, thủy trung tùy an sở hữu hoa quả. Thủ bát viên cảnh, các an kỳ
phương, di nhiểu hoa bát,
cảnh ngoại kiến-lập, thập lục liên-hoa, thập lục hương-lư, gián hoa phô thiết, trang nghiêm hương-lư, thuần thiêu trầm-thủy,
vô linh kiến hỏa.
VIỆT DỊCH:
Nơi giữa đàn, đặt một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, gỗ. Ở giữa hoa
để một cái bát, trong bát ấy đựng trước nước sương tháng Tám, trong nước ấy cắm
các hoa lá. Đoạn lấy tám cái gương tròn, mỗi cái đặt một phía, chung quanh hoa
và bát. Bên ngoài những gương ấy đặt mười sáu hoa sen, giữa các hoa sen đặt
mười sáu lư hương trang hoàng. Trong lư hương chỉ đốt hương trầm thủy, không để
thấy lửa.
GIẢNG GIẢI:
Nơi giữa đàn, đặt một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, gỗ. Ở
giữa hoa để một cái bát, trong bát ấy đựng trước nước sương tháng Tám, trong
nước ấy cắm các hoa lá. Đoạn lấy tám cái gương tròn, mỗi cái đặt một phía,
chung quanh hoa và bát.
Lấy tám cái gương tròn đặt đúng theo tám phía làm
thành hình bát giác.
Bên ngoài những gương ấy đặt mười sáu hoa sen, giữa các hoa sen đặt mười sáu
lư hương trang hoàng.
Mười sáu hoa sen và mười sáu lư hương cùng đặt
quanh đàn. Những lư hương trang hoàng để mọi người cùng cảm thấy thích thú, dễ
chịu.
Trong lư hương chỉ đốt hương trầm thủy, không để thấy lửa.
Chỉ duy nhất đốt loại hương ấy và đừng để thấy
lửa, có nghĩa là gương và hoa không thấy được
lửa, nói khác đi, hương đặt bên trong lò sao cho ngọn lửa không thể thấy gương
hay hoa.
KINH VĂN:
取白牛乳。置十六器。乳為煎餅。並諸砂糖、油餅、乳糜、蘇合、蜜薑、純酥、純蜜。於蓮華外。各各十六圍繞華外。以奉諸佛及大菩薩。
Thủ
bạch-ngưu nhũ, trí thập lục
khí, nhũ vi tiển bỉnh, tinh
chư sa đường, du bỉnh nhũ mê, tô-hiệp mật-cương, thuần-tô thuần-mật, ư
liên-hoa ngoại, các các thập lục vi nhiễu hoa ngoại, dĩ phụng chư Phật cập đại
Bồ-Tát.
VIỆT DỊCH:
Lấy sữa Bạch ngưu đựng trong mười
sáu bình, dùng sữa làm bánh nướng cùng các thứ đường cát, bánh rán, bột sữa, tô
hợp, mứt gừng, mật ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ đều mười sáu bình đặt bên
ngoài và quanh vòng hoa sen để cúng dường chư Phật và các Đại Bồ tát.
GIẢNG GIẢI:
Lấy sữa Bạch ngưu đựng trong mười sáu bình, dùng sữa làm bánh
nướng.
Sữa trộn với bột làm bánh.
Ngoài ra còn có các thứ đường cát, bánh rán, bột sữa. Loại
gạo nấu nhừ với sữa, hương tô hợp, mứt gừng, mật ong, bơ tốt, mật tốt,
mỗi thứ đều mười sáu bình đặt bên ngoài và quanh vòng hoa sen.
Đặt bình trước mỗi hoa sen, tổng cộng mười sáu
bình như vậy, để cúng dường chư Phật và các Đại Bồ tát.
KINH VĂN:
每以食時。若在中夜。取蜜半升。用酥三合。壇前別安一小火爐。以兜樓婆香。煎取香水。沐浴其炭。然令猛熾。投是酥蜜於炎爐内。燒令煙盡。享 佛 菩 薩。
Mỗi dĩ thực thời, nhược tại trung dạ, thủ mật bán thăng,
thuần-tô tam lạng đàn tiền biệt an, nhứt tiểu hỏa lư, dĩ đâu lâu
bà-hương, tiển thủ hương thủy, mộc dục kỳ thán, nhiên linh mãnh xí, đầu thị tô
mật, ư viêm lô nội, thiêu linh yên tân hướng Phật Bồ-Tát.
VIỆT DỊCH:
Trong mỗi thời dùng cơm và vào lúc giữa đêm, lấy nửa thăng mật và ba cáp bơ, nơi trước đàn để riêng
một lư lửa nhỏ; lấy hương lâu đâu bà nấu lấy nước thơm để rửa sạch than, đốt
than trong lư cho đỏ hồng rồi rót mật bơ vào, đốt cho hết khói đoạn cúng dường
chư Phật Bồ tát.
CÁP = 1/10 lít
GIẢNG GIẢI:
Trong mỗi thời dung cơm
và vào lúc giữa đêm. Thời
gian suốt bữa ăn trong ngày và lúc nửa đêm. Lấy nửa thăng
mật và ba cáp bơ, nơi trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ. Nơi
phía trước đàn đặt duy nhất lư lửa. Lấy hương lâu đâu bà nấu lấy nước
thơm để rửa sạch than. Than trước khi đem đốt
phải được rửa sạch bằng nước có hương thơm. Đốt than trong lư cho đỏ
hồng. Lửa đốt trong lư phải mạnh và rất nóng. Rồi rót mật bơ
vào, đốt cho hết khói đoạn cúng dường chư Phật Bồ tát. Mọi việc xong
hết mới dâng cúng Phật Bồ tát.
Điều
ấy giống như trong Mật giáo, người ta thường đốt cả mật và bơ để cúng dường
Phật, thậm chí họ còn đốt nhiều vật giá trị như vàng, bạc, châu báu…cúng dường
chư Phật.
KINH VĂN:
令其四外徧懸幡華。於壇室中。四壁敷設十方如來及諸菩薩所有形像。
Linh kỳ tứ ngoại biến huyền phan hoa. Ư đàn-thất
trung, tứ bích phu thiết, thập phương Như-Lai cập
chư Bồ-Tát sở hữu hình tượng.
VIỆT DỊCH:
Nơi bốn phía ngoài, treo khắp phướn và hoa, ở trong phòng đàn, an trí hình
tượng hiện có của mười phương Như Lai và các vị Bồ tát trên bốn vách.
GIẢNG GIẢI:
Nơi bốn phía ngoài, treo
khắp phướn và hoa.
Bốn phía ngoài tường là
phạm vi vây quanh phòng đàn. Ở trong phòng đàn, an trí hình tượng
hiện có của mười phương Như Lai và các vị Bồ tát trên bốn vách.
KINH VĂN:
應於當陽。張盧舍那、釋迦、彌勒、阿閦、彌陀。諸大變化觀音形像。兼 金剛 藏。安其左右。帝釋、梵王、烏芻瑟摩、并藍地迦、諸軍茶利、與毗俱胝、四天王等。頻那夜迦。張於門側。左右安置。
Ưng ư đương dương, thiết Lô-Xá-Na, Thích Ca,
Di-Lặc, A-Xúc, Di-Đà, Chư Đại
biến hóa, Quán-Âm hình tượng, kiêm Kim-Cang-Tạng, an kỳ
tả hữu. Đế-Thích, Phạm-Vương,
Ô-Sô Sắc-Ma, tinh Lam Địa-Ca, chư Quân-Trà-Ly, dữ Tỳ- Cu- Đê, Tứ-Thiên-Vương đẳng, Tần-Na,
Dạ-Ca, trương ư môn tắc, tả hữu an trí.
VIỆT DỊCH:
Nên ở chính giữa đặt hình tượng
Phật Lô Xá Na, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật A Súc, Phật Di Đà, các hình
tượng đại biến hóa của Quán Thế Âm, lại thêm hình tượng các vị Kim Cang Tạng Bồ
tát ở hai bên. Những tượng của Đế Thích, Phạm Vương, Ô Sô Sắc Ma, Lam Địa Ca,
Quân Trà Lợi, Tỳ Câu Chi và Tứ Thiên vương, Tần Na Dạ Ca, treo ở hai bên cửa.
GIẢNG GIẢI:
Nên ở chính giữa đặt
hình tượng Phật Lô Xá Na, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật A Súc, Phật Di Đà,
các hình tượng đại biến hóa của Quán Thế Âm.
Tỳ Lô Xá Na có
nghĩa tràn khắp các cõi. Bồ tát Di Lặc là vị Phật tương lai trong thế gian này.
Hình tượng ngài là vị Bồ tát béo tròn. Phật A Súc ở phương Đông, ngài còn có
danh hiệu Dược Sư Phật.
A Súc
có nghĩa là Bất Động. Phương Đông thường biến động, nhưng vị Phật ở đây là Bất
động. A Di Đà có nghĩa là ánh sáng vô cùng, thọ mạng vô lượng. Về sự biến hóa
của đức Quán Âm, bản kinh này cũng đã nói đến, đoạn diễn tả Ngài có thể hiện
thân có một đầu, có ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, hoặc một
trăm lẻ tám đầu. Hoặc diễn tả Ngài có một tay, ba tay, năm tay, bảy tay, chín
tay, hoặc nhiều đến một trăm lẻ tám tay, một nghìn tay, mười nghìn tay, hoặc
tám mươi bốn nghìn tay.
Lại thêm hình tượng các
vị Kim Cang Tạng Bồ tát ở hai bên.
Đấy là các thần hộ pháp,
thường biểu hiện vẻ mặt rất nghiêm khắc, đáng sợ.
Những tượng của Đế Thích, Phạm
Vương.
Đế Thích là
vua tầng trời thứ ba mươi ba. Ngài là Thượng đế, hoặc còn gọi là Thiên
chủ. Phạm vương là Đại Phạm Thiên.
Ô Số Sắc Ma, Lam Địa
Ca, Quân Trà Lợi, Tỳ Câu Chi.
Ô Sô Sắc Ma là Hỏa Đầu
kim Cang. Lam Địa Ca có mặt xanh và là vị thần Hộ pháp.
Quân Trà Lợi có nghĩa là Điều phục, hoặc còn có hiệu khác là Kim Cang Trí. Tỳ
Câu Chi cũng là thần Hộ pháp.
Sắp bày hình tượng
của Tứ Thiên vương, Tần Na Dạ Ca, treo ở hai
bên cửa.
Tần Na Dạ Ca
là thần Hộ pháp: Vị này đặc biệt xấu và rất dữ tợn.
Người Trung Quốc diễn tả có hai Hộ pháp, một vị là Pin Na, mình
người đầu lợn, một vị là Yeh Chia, mình người đầu voi, thân hình rất dài. Người
Ấn Độ mô tả thần Tần Na Dạ Ca VIỆT DỊCH:Vinayaka là thần Ganapata, thân hình
người, đầu voi. Sự xuất hiện hình dạng kỳ dị, đáng sợ như thế nhằm khiến cho
mọi người khiếp sợ mà đối xử nhau cho phải đạo. Nơi cửa của Bồ đề đạo tràng đều
có đặt thần hộ vệ.
KINH VĂN:
又取八鏡。覆懸 虛空。與壇場中 所安之鏡。方面相對。使其形影重 重
相
涉。
Hựu thủ bát cảnh, phúc huyền hư-không, dữ đàn trưởng
trung, sở an chi cảnh, phương diện tương đối, sử kỳ hình ảnh trùng trùng tương-hiệp.
VIỆT DỊCH:
Lại lấy tám cái gương treo úp trên không, mặt gương này đối chiếu với tám
gương trước đã đặt trong đàn tràng, làm cho hình ảnh phản chiếu với nhau nhiều
lớp.
GIẢNG GIẢI:
Lại lấy tám cái gương
treo úp trên không, mặt gương này đối chiếu với tám gương trước đã đặt trong
đàn tràng.
Làm thế nào để treo được
gương trong hư không? Quý vị đều lấy làm lạ. Chẳng hạn như ngọn đèn
treo trên trần nhà. Nhưng làm sao để treo nó lơ lửng như mặt trời? Ở đây chẳng
có gì lạ cả - Đấy là treo các chiếc gương lơ lửng trên không trong phòng. Gương
phải đặt sao cho đối diện với các gương khác.
Làm cho hình ảnh phản chiếu
với nhau nhiều lớp.
Những hình ảnh
sẽ lồng vào nhau trùng trùng đến vô tận.
KINH VĂN:
於初七中。至 誠 頂 禮 十 方 如來。諸大菩薩。阿羅漢號。恆於六時誦咒圍壇。至心行道。一時 常 行一百八徧。
Ư sơ
thất trung, chí-thành đảnh lễ, Thập phương Như-Lai, chư Đại Bồ-Tát, A-La-Hán hiệu, hằng ư lục thời tụng chú vi đàn, chí tâm hành đạo, nhứt thời thường hành, nhứt bá bát
biến.
VIỆT DỊCH:
Trong tuần bảy ngày đầu, chí thành đảnh lễ danh hiệu mười phương Như Lai,
các vị đại Bồ tát và A-la-hán. Thường trong sáu thời, tụng chú đi quanh đàn,
chí tâm hành đạo, một thời thường tụng một trăm lẻ tám biến.
GIẢNG GIẢI:
Trong tuần bảy ngày đầu,
chí thành đảnh lễ danh hiệu mười phương Như Lai, các vị đại Bồ tát và A-la-hán.
Thường trong sáu thời, tụng chú đi quanh đàn.
Chú ở đây là
thần chú kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Chí tâm hành đạo, một
thời thường tụng một trăm lẻ tám
biến.
Chí tâm có nghĩa giúp
quý vị không nghĩ ngợi gì khác, chỉ duy nhất chú tâm vào chú.
Mỗi lần tụng đọc là tụng suốt một trăm lẻ tám biến, không dừng nghĩ.
KINH VĂN:
第二七中。一 向 專 心 發菩薩願。心無間斷。我毗奈耶先有 願 教。
Đệ nhị
thất trung, nhứt hướng chuyên tâm, phát Bồ-Tát nguyện, tâm vô gián đoạn,
ngã Tỳ-nại-da, tiên hữu nguyện giáo.
VIỆT DỊCH:
Trong tuần bảy ngày thứ hai, một mặt chuyên tâm phát nguyện Bồ tát, tâm
không gián đoạn, trong luật nghi, ta đã chỉ dạy về nguyện.
GIẢNG GIẢI:
Trong tuần bảy ngày thứ hai hành đạo, một
mặt chuyên tâm phát nguyện Bồ tát.
Quý vị
phải thành tâm và chuyên chú đọc bốn lời nguyện của Bồ tát:
1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
3. Pháp môn vô thượng thệ nguyện học.
4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Tâm không gián
đoạn, tâm
không dừng niệm chú Lăng Nghiêm và luôn nhớ lấy bốn điều
thệ nguyện.
Trong luật nghi, ta đã
chỉ dạy về nguyện.
Khi nói về giới luật, ta
đã dạy thực hành nguyện.
KINH VĂN:
第三七中。於十二時。一 向 持 佛 般怛囉咒。至第七日。十 方 如 來 一時出現。鏡交光處。承佛摩頂。
Đệ tam thất trung, ư
thập nhị thời, nhứt hướng trì Phật Bác-Đác–Ra
chú, chí đệ thất nhựt, thập-phương Như-Lai, nhứt thời xuất-hiện, cảnh
giao quang xứ, thừa Phật ma đảnh.
VIỆT DỊCH:
Trong tuần bảy ngày thứ ba, trong suốt mười hai thời, một mặt trì chú
Bát-đát-la chú của Phật, đến ngày thứ bảy sẽ thấy mười phương Như Lai nhất thời
xuất hiện, trong chỗ ánh sáng của các mặt gương giao nhau và được Phật xoa
đỉnh.
GIẢNG GIẢI:
Trong tuần bảy ngày thứ ba,
trong suốt mười hai thời, một mặt trì chú Bát-đát-la chú của Phật.
Tụng đọc thần chú Đại
Bạch Tán Cái, tức chú kinh Lăng Nghiêm của Phật.
Đến ngày thứ bảy sẽ thấy
mười phương Như Lai nhất thời xuất hiện.
Cùng lúc ấy,
chư Phật sẽ bất ngờ xuất hiện tại đạo tràng, trong chỗ ánh
sáng của các mặt gương giao nhau và được Phật xoa đỉnh.
Quý vị sẽ
được các Đức Phật trong mười phương xuất hiện và xoa lên
đỉnh đầu, hình ảnh động tác ấy sẽ hữu hiện trong anh sáng các mặt gương phản
chiếu đến vô cùng tận.
KINH VĂN:
即於道場 修三摩地。能 令 如是末世修學。身心明 淨 猶如瑠璃。
Tức ư Đạo-Tràng,
tu Tam-ma-địa, năng linh như thị, mạt-thế
tu học, thân-tâm minh-tịnh do như lưu-ly.
VIỆT DỊCH:
Đoạn, ở nơi đạo tràng đó tu pháp
Tam ma địa, có thể khiến cho những người tu học như vậy, trong thời mạt pháp,
thân tâm được sáng tỏ và trong sạch như ngọc lưu ly.
GIẢNG GIẢI:
Đoạn, ở nơi đạo tràng đó
tu pháp Tam ma địa.
Nơi đạo tràng như miêu
tả trên, khi được các Như Lai khắp mười phương hiện đến
xoa đỉnh, liền tu pháp Tam ma địa, tức quay trở lại tánh nghe để nghe tự
tánh, có thể khiến cho những người tu học như vậy, trong thời
mạt pháp, thân tâm được sáng tỏ và trong sạch như ngọc lưu ly.
Thân và tâm người ấy
sẽ trong suốt như pha lê và sáng lóng lánh.
KINH VĂN:
阿難。若此比丘本受戒師。及同會中十比丘等。其中有一不清淨者。如是道場多不成就。
A-Nan!
Nhược thử Tỳ-Khưu, bổn thọ giới sư, cập đồng hội trung thập Tỳ-Khưu đẳng, kỳ
trung hữu nhứt bất thanh-tịnh giả, như thị Đạo-Tràng, đa bất thành tựu.
VIỆT DỊCH:
A Nan, nếu như thầy truyền giới cho vị Tỳ kheo ấy, hoặc
trong mười vị Tỳ kheo đồng hội, có một người giới hạnh không thanh tịnh thì các đạo tràng như
vậy đa phần là không được thành tựu.
GIẢNG GIẢI:
A Nan, ông nên biết nếu
vị Tỳ kheo tu dưỡng và trì chú Lăng Nghiêm không đúng cách, ngay cả vị thầy
truyền giới không được thanh tịnh, hoặc vị ấy tu học từ vị Tỳ kheo khác có giới
đức không thanh tịnh, vậy pháp hành ấy sẽ không có kết quả.
Nên đừng thực hiện nếu
có những người không thanh tịnh.
Có thể họ đã giữ giới và
chưa phạm lỗi. Đức Phật đề ra các giới như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối
thì họ phạm tội sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói những lời không chân thật.
Trong trường hợp đó, sự lập Bồ đề đạo tràng sẽ chẳng thành tựu.
Tất cả sự tu dưỡng, mọi
lời thần chú đều không có hiệu quả. Do đó, nếu quý vị thực hiện giáo pháp này
thấy không được như ý, quý vị đừng nói:
“Tôi hành trì trong đàn suốt ba tuần, nhưng Phật Thích Ca, các Phật trong mười phương không đến
xoa đỉnh đầu tôi. Tôi không thấy các vị ấy. Có thể Phật Thích Ca dối tôi.”
Không phải như vậy. Có
thể là do tự thân quý vị không thanh
tịnh, hoặc một trong ai đó trong số mười vị truyền giới không được thanh
tịnh. Chỉ cần một người không thanh tịnh thì tất cả đều bất thành. Đây
là điều chúng ta nên hết sức chú ý.
KINH VĂN:
從三七後。端坐安居。經一百日。有利根者。不起於座。得須陀洹。縱其身心聖果未成。決定自知成佛不謬。
Tùng
tam thất hậu, đoan tọa an cư, kinh nhứt bá nhựt, hữu lợi căn giả, bất khởi ư tòa, đắc Tu-Đà-Hoàn, túng kỳ
thân-tâm, Thánh quả vị thành,
quyết-định tự tri thành Phật bất mậu.
VIỆT DỊCH:
Từ sau ba tuần bảy ngày, ngồi nghiêm chỉnh an cư, trải qua một trăm ngày, người có lợi
căn không rời khỏi chỗ ngồi liền
được quả Tu-đà-hoàn, mặc dù thân tâm thánh quả chưa thành, nhưng đã
quyết định tự biết sẽ thành Phật không sai khác.
GIẢNG GIẢI:
Từ sau ba tuần bảy ngày,
ngồi nghiêm chỉnh an cư, trải qua một trăm ngày.
Việc ngồi
thiền không giống như một số người, họ ngồi được hai tiếng đồng hồ và xem đó là
kỳ công, tự cho là mình đã hơn được nhiều người. Thực ra, điều ấy có thể ví như
chú mèo con đấu sức cùng sư tử vậy.
Ngồi nghiêm
chỉnh có nghĩa là không nghiêng trái, phải, cũng chẳng phải cúi về phía
trước, ngã ra sau, hoặc duỗi dài chân. Đấy không phải là ngồi yên và lo nghĩ: “Ôi! Chân tôi tê quá!”.
Ngồi trải qua có
nghĩa là không nghĩ tưởng gì khác. Ngồi một trăm ngày là không đi ăn, cũng
chẳng tự thư giãn, tự làm cho mình dễ chịu. Đơn giản chỉ là ngồi một trăm ngày.
Người có lợi căn không
rời khỏi chỗ ngồi
liền được quả Tu-đà-hoàn.
Người thông minh và có
lợi căn sẽ ngồi một trăm ngày, chắc chắn người đó sẽ được
Thánh quả thứ nhất của A-la-hán. Ngày nay, quý vị không thể ngồi được trọn
ngày, tuy vậy, cũng có người nghĩ mình sẽ đạt được Thánh quả. Thực là buồn
cười! Quý vị phải có khả năng ngồi trong một trăm ngày mới có được kết quả.
Mặc dù thâm tâm thánh
quả chưa thành,
những đã quyết định tự biết sẽ thành Phật không sai khác.
Trong hiện tại họ
chưa chứng được quả vị vô học, nhưng tin chắc mình sẽ thành Phật.
KINH VĂN:
汝問 道 場。建立如是。
Nhữ
vấn Đạo-Tràng, kiến-lập như thị.
VIỆT DỊCH:
Ông hỏi đạo tràng thì cách thành lập như vậy.
GIẢNG
GIẢI:
Cách thức dựng lập đạo
tràng là vậy.
TU TRÌ ĐƯỢC CHỨNG
Từ sau ba tuần bảy ngày, ngồi nghiêm chỉnh an cư, trải qua một trăm ngày, người có lợi căn không rời khỏi chỗ ngồi liền được quả Tu-đà-hoàn, mặc dù thân tâm thánh quả chưa thành, nhưng đã quyết định tự biết sẽ thành Phật không sai khác.
Ông A-nan bạch Phật rằng: Thưa Thế-tôn, tôi nhớ lời từ-bi dạy-bảo vô-thượng của đức Như-lai, tâm đã khai-ngộ, tự biết con đường tu-chứng thành-quả vô-học, song, những người tu-hành, trong đời mạt-pháp, muốn lập đạo-trường, cần kết-giới thế nào, cho hợp với quy-tắc thanh-tịnh của chư Phật Thế-tôn?"
Phật bảo ông A-nan: "Nếu người trong đời mạt-pháp, muốn lập đạo-trường, trước hết, phải lấy phân con đại-lực-bạch-ngưu ở núi Tuyết-sơn, bạch-ngưu nầy, ăn cỏ-thơm ngon-tốt trong núi và chỉ uống nước trong trên núi Tuyết-sơn, nên cái phân mịn-màng; nên lấy cái phân nó, hòa-hợp với hương chiên-đàn để quét trên mặt đất. Nếu, không phải ở Tuyết-sơn, thì phân bạch-ngưu hôi-nhớp, không thể trát đất được. Vậy thì, phải riêng ở nơi bình-nguyên, đào bỏ các lớp đất trên mặt, lấy thứ đất vàng từ 5 thước trở xuống; rồi lấy 10 thứ hương là chiên-đàn, trầm-thủy, tô-hợp, huân-lục, uất-kim, bạch-giao, thanh-mộc, linh-lăng, cam-tùng và kê-thiệt, nghiền-rây thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, để trát trên mặt đất đạo-trường, mỗi bề 1 trượng 6, thành cái đàn bát-giác. Giữa trung-tâm đàn, an-trí một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, cây, giữa hoa để một cái bát, trong bát đựng trước nước mù-sương tháng Tám và trong nước ấy tùy-ý cắm các hoa lá hiện có. Rồi lấy 8 cái gương tròn, mỗi cái để một phía, chung-quanh hoa sen và bát hoa. Bên ngoài những gương ấy, an-trí 16 hoa sen và giữa các hoa sen để 16 lư-hương cho trang-hoàng. Trong lư-hương đốt toàn hương trầm-thủy, không cho thấy lửa. Lấy sữa bạch-ngưu để trong 16 khí-mãnh; lấy sữa làm bánh-nướng và các thứ đường-cát, bánh-rán, bột-sữa, tô-hộp, mứt-gừng, mật-ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ 16 khí-mãnh, đặt ở ngoài hoa sen và quanh vòng hoa sen; để cúng-dâng chư Phật và các vị Đại-bồ-tát.
Trong mỗi thời ăn cơm và ở giữa đêm, lấy nửa thăng mật và 3 cáp bơ, trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ; lấy hương đâu-lâu-bà, nấu lấy nước thơm, rửa than cho sạch; rồi đốt than đỏ hồng trong lư và rót mật bơ vào, đốt cho hết khói để cúng-dường chư Phật, Bồ-tát.
Ở 4 phía ngoài, treo khắp phan và hoa; ở trong phòng đàn, an-trí hình-tượng hiện có của thập phương Như-lai và các vị Bồ-tát nơi 4 vách. Nên ở chính-giữa để hình-tượng Phật Lô-xá-na, Phật Thích-ca, Phật Di-lặc, Phật A-xơ, Phật Di-đà và các hình-tượng đại-biến-hóa của Ngài Quán-âm, lại thêm, hình-tượng các vị Kim-cương-tạng Bồ-tát để ở hai bên; những tượng của Đế-thích, Phạm-vương, Ô-sô-sắt-ma, Lam-địa-ca, Quân-trà-lỵ, Tỳ-câu-chi và Tứ-thiên-vương, Tần-na, Dạ-ca, vân vân..., treo ở hai bên cửa; lại lấy 8 cái gương treo úp trên hư-không, mặt gương nầy đối-chiếu với 8 gương trước, đã để trong đàn-tràng, làm cho các hình-ảnh lồng-nhau nhiều lớp.
Trong tuần 7 ngày đầu, chí-thành đỉnh-lễ danh-hiệu thập phương Như-lai, các vị Đại-bồ-tát và A-la-hán, thường tron 6 thời tụng-chú đi quanh đàn, chí-tâm hành-đạo, một thời thường là 108 biến. Trong tuần 7 ngày thứ 2, một mặt chuyên-tâm phát-nguyện Bồ-tát, tâm không gián-đoạn; trong luật-nghi đạo, ta đã có chỉ-dạy về nguyện. Trong tuần 7 ngày thứ 3, trong cả 12 thời, một mặt trì-chú Bát-đát-ra của Phật; đến ngày thứ 7, thì thấy thập phương Như-lai một thời xuất-hiện, trong chỗ ánh-sáng các mặt gương giao-xen và được Phật xoa đỉnh. Rồi, liền ở nơi đạo-trường đó, tu phép Tam-ma-đề, có thể khiến cho những người tu-học như vậy, trong đời mạt-pháp, thân tâm được sáng-suốt, trong-sạch như ngọc lưu-ly.
A-nan, nếu trong các thầy truyền-giới cho vị tỷ-khưu ấy, hay trong 10 vị tỷ-khưu đồng-hội, có một người giới-hạnh không thanh-tịnh, thì những đạo-trường như thế, phần nhiều là không thành-tựu.
Từ sau 3 tuần 7 ngày, ngồi nghiêm-chỉnh an-cư, trải qua một trăm ngày, thì những người có lợi-căn, không rời khỏi chỗ ngồi, đã được quả Tu-đà-hoàn; dầu cho nơi thân tâm thánh-quả chưa thành, nhưng đã quyết-định tự biết sẽ thành Phật, không sai-chạy. Ông hỏi về đạo-trường, thì cách dựng-lập như vậy".
Comments
Post a Comment